091202a
Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011
Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2011
lại thị thu hồng
| | Dot-matrix printer | Inkjet printer | Laser printer | Thermal transfer printer | imagesetters | plotter |
| Function | Use pins to print the dots required to shape a character. | Operate by projecting small ink droplets onto paper to form the required image. Color and hues are created by the precise mixing of cyan, magenta, yellow and black inks. | Scan the image with a laser beam an transfer it to paper with a special ink powder called toner | Transfer a wax-based ink onto paper. | Images are created on a DTP computer and then output directly to the printing plates, with out requiring film as an intermediate step. | Use ink and fine pens held in a carriage to draw very detailed designs on paper. |
| Resolution | 72-180 dpi | 2400 dpi | 1200-2400 dpi | Medium | Up to 3540 dpi | |
| Product | Text and graphics, used to print multi-part forms, self-copying paper and continuous-form labels. | | Graphics | Colorful images, bar codes, labels and medium resolution graphics | Poster, big images, plates. | Plans, engineering drawings and other technical illustrations |
| Speed | Slower than laser printer | Fairly fast | Great speed | | Extremely fast | |
| Price | Much cheaper than laser printer | Not as expensive as laser printer | Expensive | | Too expensive | |
lại thị thu hồng- laser printer
1. Đường dẫn điều khiển hệ thống và phần mềm gửi tín hiệu đến bộ xử lí của máy in laser để xác định từng điểm in trên giấy. tín hiệu có thể là một trong hai loại: hoặc là bộ mã ASCII hoặc là trang giấy mô tả ngôn ngữ lệnh.
2. Sự hướng dẫn từ bộ xử lí mở và tắt một cách nhanh chóng chùm sáng laser.
3. Gương phản quang phản chiếu tia laser để đường truyền tia là một đường ngang qua bề mặt xi lanh được gọi là hộp quang dẫn hưu cơ, thường thì nó giống như là máy lăn. Sự kết hợp bật tắt của chùm ánh sáng laser và sự di chuyển của dòng ánh sáng dẫn đường qua xi lanh tạo nên nhiều điểm ánh sáng nhỏ trên bề mặt ống xilanh. Khi tia laser không chiếu sáng tron vẹn hộp quang dẫn hữu cơ thì máy lăn quay- thường là từ 1/300th đến 1/600th mỗi inch ở hầu hết các máy in laser. Và chùm ánh sáng bắt đầu làm việc ở điểm dòng kế tiếp. một vài máy in sử dụng đi- ốt phát quang để thực hiện chức năng tương tự như ánh sáng laser với ít phần chuyển động hơn.
4. Một thành phần khác của trục lăn kéo tờ giấy là hệ thống nung chảy. Ở đó nhiệt làm kết dính một cách lâu dài vào tờ giấy bằng làm tan chảy sáp( một phần của mực). Nhiệt từ hệ thống nung chảy làm cho máy in nóng lên. Những mẩu in được đưa ra ngoài qua theo dãy nên thường có trình tự nhất định.
5. Nơi mà điểm sáng chiếu vào trống,nó tạo ra một phim điện tích âm – thường làm bằng oxit kẽm và những nguyên liệu khác-trên bề mặt trống để đổi điện cực sao cho những chấm mực cùng điện cực với tờ giấy. Trong trường hợp này,ánh sáng sẽ đổi điện cực từ âm sang dương. Mỗi điện cực dương sẽ tạo ra một điểm mực đen trên giấy. máy lăn vẫn chưa chạm tia laser , điện cực âm v à tạo phần trắng trên bản sao giấy.
6. Khoảng nửa đường của máy lăn, hộp quang dẫn hữu cơ liên hệ với một thùng rác chứa mực gọi là hộp mực, hộp mực này không nạp điện mà nó là máy lăn tạo nên điện tích bởi dòng ánh sáng laser. Bởi vì phần tử với những điện tích không ổn định khác hút lẫn nhau nên ống mực tạo nên những điểm mực nhỏ trên máy lăn bất cứ khi nào dòng ánh sáng laser tạo ra điện tích.
7. Khi máy lăn hoạt động, nó làm cho tờ giấy bị ép dọc. Mặc dù điện tích tạo bởi tờ giấy thì giống với điện tích tạo bởi dòng ánh sáng laser nhưng điện tích ở tờ giấy mạnh hơn và nó hút mực từ máy lăn vào mình.
8. Khi máy lăn bắt đầu quay, một hệ thống bánh răng và trục lăn đặt tờ giấy vào động cơ máy in theo chiều dọc gọi là đường nạp giấy. Đường nạp giấy kéo tờ giấy qua một hệ thống nạp điện tích và dán những điện tích đó vào tờ giấy.
9. Khi máy lăn quay, nó tạo nên trên bề mặt một làn mỏng gọi là dây corang. Được gọi như vậy là bởi vì dòng điện chạy trong dây dẫn tạo ra một vòng cuốn hoặc hào quang,xung quanh nó là điện tích dương. Vầng hào quang còn lại trên bề mặt máy lăn là điện tích âm điều này làm cho chùm sáng laser có thể kéo tờ giấy khác lên bề mặt của máy lăn. Kĩ thuật tạo điện tích âm. Theo mô tả, dòng điện biến đổi trong mỗi trường hợp có thể đảo ngược và cho kết quả tương đối giống nhau. phương pháp được mô tả ở đây đúng với hầu hết với các máy in sủ dụng động cơ in canon, như mẫu Hewlwtt- Packard, những máy này đạt chuẩn trong ố những máy in laser. Thông thư ờng được gọi là viết đen vì mỗi chấm mực được khắc acid trên mặt máy lăn bởi chùm tia laser đánh dấu một vị trí mực đen trên bản in. Tuy nhiên cũng có một cách làm việc khác của máy in laser tạo ra những kết quả khác nhau đáng chú ý. Phương pháp này được sử dụng bởi động cơ Ricoh, được gọi là viết- trắng, bởi những nơi chùm sáng laser chiếu vào sẽ tạo ra điện tích giống với điện tích của mực. mực này tập trung ở những vùng không bị ảnh hưởng bởi chùm sáng. Nhìn chung máy in viết- tr ắng cho những vùng đen hơn, viết đen tạo chi tiết tốt hơn.
lại thị thu hồng-CD-DVD
1. Một động cơ thay đổi tỉ lệ quay của đĩa dù một bộ phận gọi là bộ cảm biến được đặt trong bán kính của đĩa, phần đĩa trên bộ cảm biến thì luôn luôn chuyển động cùng tốc độ
2. Bản thiết kế laser là một dòng ánh sáng tập trung đó là ống kính và một cuộn dây hội tụ tập trung xa hơn.
3. Chùm ánh sáng laser lọt qua một lớp nhựa và phản ánh lại lớp phản chiếu giống như là một tấm kim loại nhôm đặt ở dưới đáy của đĩa.
4. Bốn bề mặt của lớp này biến đổi giữa mặt ghi và khe. Mặt ghi là một bề mặt phẳng, khe là chỗ lõm nhỏ trong lớp phản xạ. hai bề mặt là một bản ghi 1s và 0s sử dụng để lưu trữ dữ liệu.
5. Ánh sáng chiếu vào khe thì bị phân tán nhưng ánh sáng chiếu vào mặt ghi thì bị phản xạ ngược trở lại một cách trực tiếp bởi bộ cảm biến. nơi đây nó vượt qua một lăng kính làm khúc xạ ánh sáng laser phản xạ vào điot cảm quang.
6. Mỗi xung ánh sáng chiếu vào điot cảm quang đều phát ra một điện áp nhỏ.
Điện áp này chống lại mạch định thời để tạo ra một dòng 1s hoặc 0s mà máy tính có thể hiểu.
Quay cùng tốc độ:
Đĩa từ như những đĩa sử dụng trong ổ cứng có dữ kiệu sắp xếp theo đường tròn đồng tâm gọi là đường ghi âm cái mà được chia ra thành những bộ phận. sử dụng giản đò gọi là vận tốc góc không đổi đó là đĩa từ luôn luôn quay với một tỉ lệ không đổi. đường ghi âm nằm phía ngoài của đĩa thì chuyển động nhanh hơn những đường ghi âm gần trung tâm. Bởi vì những cung từ bên ngoài chuyển động qua bộ ghi, bộ đọc. nên những cung từ này phải lớn hơn để lưu trữ một lượng lớn các bộ phận bên trong. Dạng này tốn một lượng lớn bộ nhớ với tốc đọ lớn nhất để dữ liệu có thể truy hồi.
Quay khác tốc độ:
Điển hình, đĩa CD-ROM sử dụng một giản đò khác hơn đĩa từ để phân vùng đĩa nơi dữ liêu được ghi lại. thay vì các đường ghi âm được sắp xếp theo đường tròn đồng tâm, trên đĩa CD-Rom, dữ liệu được bao gồm một đường ghi âm đơn lẻ xoắn ốc từ trung tâm tới đường tròn. Đường ghi âm vẫn bị chia ra thành các cung từ, nhưng mỗi cung từ thì giống nhau về kích thước. sử dụng một phương pháp gọi là vận tốc tuyến tính không đổi, ổ đĩa biến đổi tốc độ mà đĩa đang quay để các cung từ chuyển động hướng về phái trung tâm của đĩa, đĩa quay nhanh hơn. Hệ quả là đĩa CD có thể chứa nhiều hơn điã từ và do đó nhiều dữ liêu hơn.
lại thị thu hồng
1. Đường dẫn điều khiển hệ thống và phần mềm gửi tín hiệu đến bộ xử lí của máy in laser để xác định từng điểm in trên giấy. tín hiệu có thể là một trong hai loại: hoặc là bộ mã ASCII hoặc là trang giấy mô tả ngôn ngữ lệnh.
2. Sự hướng dẫn từ bộ xử lí mở và tắt một cách nhanh chóng chùm sáng laser.
3. Gương phản quang phản chiếu tia laser để đường truyền tia là một đường ngang qua bề mặt xi lanh được gọi là hộp quang dẫn hưu cơ, thường thì nó giống như là máy lăn. Sự kết hợp bật tắt của chùm ánh sáng laser và sự di chuyển của dòng ánh sáng dẫn đường qua xi lanh tạo nên nhiều điểm ánh sáng nhỏ trên bề mặt ống xilanh. Khi tia laser không chiếu sáng tron vẹn hộp quang dẫn hữu cơ thì máy lăn quay- thường là từ 1/300th đến 1/600th mỗi inch ở hầu hết các máy in laser. Và chùm ánh sáng bắt đầu làm việc ở điểm dòng kế tiếp. một vài máy in sử dụng đi- ốt phát quang để thực hiện chức năng tương tự như ánh sáng laser với ít phần chuyển động hơn.
4. Một thành phần khác của trục lăn kéo tờ giấy là hệ thống nung chảy. Ở đó nhiệt làm kết dính một cách lâu dài vào tờ giấy bằng làm tan chảy sáp( một phần của mực). Nhiệt từ hệ thống nung chảy làm cho máy in nóng lên. Những mẩu in được đưa ra ngoài qua theo dãy nên thường có trình tự nhất định.
5. Nơi mà điểm sáng chiếu vào trống,nó tạo ra một phim điện tích âm – thường làm bằng oxit kẽm và những nguyên liệu khác-trên bề mặt trống để đổi điện cực sao cho những chấm mực cùng điện cực với tờ giấy. Trong trường hợp này,ánh sáng sẽ đổi điện cực từ âm sang dương. Mỗi điện cực dương sẽ tạo ra một điểm mực đen trên giấy. máy lăn vẫn chưa chạm tia laser , điện cực âm v à tạo phần trắng trên bản sao giấy.
6. Khoảng nửa đường của máy lăn, hộp quang dẫn hữu cơ liên hệ với một thùng rác chứa mực gọi là hộp mực, hộp mực này không nạp điện mà nó là máy lăn tạo nên điện tích bởi dòng ánh sáng laser. Bởi vì phần tử với những điện tích không ổn định khác hút lẫn nhau nên ống mực tạo nên những điểm mực nhỏ trên máy lăn bất cứ khi nào dòng ánh sáng laser tạo ra điện tích.
7. Khi máy lăn hoạt động, nó làm cho tờ giấy bị ép dọc. Mặc dù điện tích tạo bởi tờ giấy thì giống với điện tích tạo bởi dòng ánh sáng laser nhưng điện tích ở tờ giấy mạnh hơn và nó hút mực từ máy lăn vào mình.
8. Khi máy lăn bắt đầu quay, một hệ thống bánh răng và trục lăn đặt tờ giấy vào động cơ máy in theo chiều dọc gọi là đường nạp giấy. Đường nạp giấy kéo tờ giấy qua một hệ thống nạp điện tích và dán những điện tích đó vào tờ giấy.
9. Khi máy lăn quay, nó tạo nên trên bề mặt một làn mỏng gọi là dây corang. Được gọi như vậy là bởi vì dòng điện chạy trong dây dẫn tạo ra một vòng cuốn hoặc hào quang,xung quanh nó là điện tích dương. Vầng hào quang còn lại trên bề mặt máy lăn là điện tích âm điều này làm cho chùm sáng laser có thể kéo tờ giấy khác lên bề mặt của máy lăn. Kĩ thuật tạo điện tích âm. Theo mô tả, dòng điện biến đổi trong mỗi trường hợp có thể đảo ngược và cho kết quả tương đối giống nhau. phương pháp được mô tả ở đây đúng với hầu hết với các máy in sủ dụng động cơ in canon, như mẫu Hewlwtt- Packard, những máy này đạt chuẩn trong ố những máy in laser. Thông thư ờng được gọi là viết đen vì mỗi chấm mực được khắc acid trên mặt máy lăn bởi chùm tia laser đánh dấu một vị trí mực đen trên bản in. Tuy nhiên cũng có một cách làm việc khác của máy in laser tạo ra những kết quả khác nhau đáng chú ý. Phương pháp này được sử dụng bởi động cơ Ricoh, được gọi là viết- trắng, bởi những nơi chùm sáng laser chiếu vào sẽ tạo ra điện tích giống với điện tích của mực. mực này tập trung ở những vùng không bị ảnh hưởng bởi chùm sáng. Nhìn chung máy in viết- tr ắng cho những vùng đen hơn, viết đen tạo chi tiết tốt hơn.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
